Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

TRƯỚC THỀM MÙA XUÂN


I
Những cơn gió rét cuối mùa vẫn cắt thịt da
Hôm qua đài báo gió mùa đông bắc 
Mưa phùn lất phất bay, gió thổi hun hút
Bàn tay em lạnh cóng, môi em tím ngắt
Giọng nói em bay theo khói nước
Em như cành cây khô run rẩy, lập cập
Ôi mùa đông, mùa đông...

Nhưng trên triền non cao hoa xương rồng vẫn nở,
Dường như chỉ có chúng mới cảm nhận được mùa xuân đang về;
Và lẫn trong làn gió bấc có đôi cánh chim én,
Cũng chỉ có chúng mới cảm nhận được mùa xuân đang đến...

II

Nhà nông vội vã cày bừa
Trong giá rét,
Bàn chân người tê cóng
Nhưng họ đã quen rồi cuộc sống đồng áng ...

Nhà nông đón xuân theo cách của riêng mình
Họ phải cấy làm sao xong trước Tết
Khi rửa chân lên đồng, mùa xuân mới về
Họ chịu rét để lúa chiêm ấm áp....

III

Cách xa hai nghìn dặm về phương Nam,
Mênh mông đất đai phì nhiêu.
Những cánh đồng lúa bát ngát, cày bừa và gặt hái quanh năm,
Những cánh rừng cao su, cà phê, hạt điều,... vô tận,
Biển xanh nhiều tàu ghe qua lại vẫn đề phòng bão tố,
Ở đây không có mùa đông…

Những em nhỏ đêm nằm chỉ đắp ngang mình một mảnh vải mỏng
Sáng ra ánh nắng tràn đầy.
Cây chẳng biết rụng lá vàng, vẫn bốn mùa tươi tốt
Và hoa thơm, trái ngọt,
Ở đây không có mùa đông...

Thành phố Hồ Chí Minh long lanh viên ngọc Viễn Đông,
Ồn ã thanh âm hiện đại.
Những con đường rộng rãi nhiều làn xe
Hối hả nối nhau không dứt,
Các thương gia buôn bán những đâu về?
Hàng hoá ngập tràn phố xá.
Tấp nập suốt ngày các cửa hàng, chợ búa,
Tất cả để đón xuân,
Nhưng dường như không biết mùa xuân đang về.
Bỗng giật mình thấy cành mai vàng trước ngõ...

IV

Hà Nội vẫn đang trong tiết đại hàn,
Hồ Gươm lung linh ánh điện,
Ì ầm người xe,
Lộng lẫy các toà cao ốc,
Mùa xuân đến đâu đây trong giá rét?

Hoa đào Nhật Tân năm nay không đắt giá,
Người ăn chơi thích tìm hoa đào đá,
Nào ai bán lá dong, khung dừa gói bánh chưng xanh?

Các cụ năm nay mở hội thư pháp,
Có cả những người thích viết bằng chữ Việt,
Chùa Trấn Quốc mừng một ngàn sáu trăm năm,
Văn Miếu năm này ai khởi trống, rung chuông...

Rất hối hả vì ai cũng biết
Mùa xuân đang đến gần...


Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

ĐƯỜNG VỀ QUÊ MẸ

Gửi các bạn thân của tôi nhân ngày giáp Tết
    
 I
“Có gái đừng gả chồng xa
Trước là mất giỗ, sau là mất con...”(*)
Thế mà em gái làng bên
Chẳng nghe lời gièm, cứ lấy chồng xa,
Tết này lặn lội về quê
Qua sông, qua suối, qua ghe, qua phà...
Cồng kềnh bánh trái, hương hoa
Đèo con bòng cái, đạp xe tuềnh toàng
Anh em, cô bác, họ hàng
Kéo nhau ra tận đầu làng ngóng trông...

II
Đường về quê mẹ mênh mông
Biết bao dải đất, bao sông, bao cầu...
Bắc nam, xuôi ngược đan nhau
Tết sang, chẳng hẹn, đâu đâu cũng về...
Rộn ràng, nô nức người xe
Thiêng liêng lữ khách tìm về cố hương...

III
Có người khách thật là sang
Tết này sáng giá, cả làng ngợi khen,
Chị về thăm lại cố hương
Vợ chồng sung túc, cái con đàng hoàng,
Dâng hương mộ tổ, đình làng
Gặp bạn xưa, nhớ rõ ràng tuổi tên;
Anh em kẻ lạ, người quen
Già thì tặng vật, trẻ em- lì xì...

Tết này chị ấy về quê
Đường làng nhớ lối đi về năm nao...



(*) Ca dao.

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Bàn về năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông



TS. Phạm Minh Diệu

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất mục tiêu và chuẩn chương trình giáo dục sau 2015 trong đó nêu ra các phẩm chất và năng lực chung [1, tr.21]. Các bộ môn dựa trên cơ sở đó để nghiên cứu đề xuất các năng lực chuyên biệt.
Đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Ở đây xin được trình bày ý kiến nhỏ, góp phần làm rõ hơn các năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay.
2. a- Trong Tâm lí học, khái niệm năng lực thường được định nghĩa như sau:
“Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức…”.
“Năng lực là những khả năng và kĩ xảo, học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt..“ (Weinert, 2001) [2, tr.4].
b- Trong giáo dục học, để thuận lợi cho việc đánh giá năng lực người học, người ta quan tâm nhiều đến năng lực hành động và coi trọng hơn năng lực cuộc sống. “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [2, tr.4].
Nhiều nhà giáo dục học cho rằng, cấu trúc năng lực gồm: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Các thành phần năng lực “gặp nhau” tạo thành năng lực hành động [2, tr.5].
c- Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, cố GS Phan Trọng Luận đã rất quan tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn chương. Tác giả cho rằng: có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo, năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực cần hình thành cho HS [4, tr. 117].
Theo tác giả, những năng lực tiếp nhận bao gồm:
(1) Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật.
(2) Năng lực tái hiện hình tượng.
(3) Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học.
(4) Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp khái quát hóa chi tiết nghệ thuật.
(5) Năng lực nhận biết loại thể để định hướng tiếp nhận.
(6) Năng lực cảm xúc thẩm mĩ.
(7) Năng lực tự nhận thức.
(8) Năng lực tự đánh giá.
(9) Năng lực sáng tạo ngôn từ (đối với HS năng khiếu) [Xem 4, tr.120- 153].
Từ đây, GS Phan Trọng Luận đề xuất 6 tiêu chí đánh giá HS (và cả người có năng khiếu văn học):
Tiêu chí I- Lòng say mê (đích thực) văn học.
Tiêu chí II- Tính nhạy cảm nhân ái và thẩm mĩ
Tiêu chí III- Khả năng quan sát nhạy bén, tinh tế cuộc sống con người và cảnh vật;
Tiêu chí IV- Khả năng liên tưởng, tưởng tượng nhạy bén và phong phú, nhất là tưởng tượng sáng tạo.
Tiêu chí V- Thói quen và khả năng tư duy hình tượng.
Tiêu chí VI- Khả năng sáng tạo (ít hay nhiều) về ngôn từ [Xem 4, tr.154].
Ý kiến của cố GS Phan Trọng Luận có thể nói là một trong những ý kiến sớm nhất ở nước ta bàn về năng lực văn chương cần được hình thành cho HS. Ý kiến đó đã xuất phát trên cơ sở khoa học, chủ yếu là Tâm lí học tiếp nhận văn học, do đó phù hợp với bản chất của hình tượng văn chương cũng như phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HS. Tuy vậy, vẫn cần phải nghiên cứu thêm nữa, nhất là trên khía cạnh “hành động” của các năng lực ấy.
3. Dựa trên các năng lực cốt lõi đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất [Xem 1, tr. 21- 25], dựa trên quan niệm “năng lực phổ thông”, đồng thời phối hợp với thang nhận thức Bloom điều chỉnh [3, tr.99], chúng tôi xin đề xuất cách hiểu về các năng lực chuyên biệt cần được hình thành cho HS trong dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông, gồm:
a- Đọc hiểu văn bản
Đọc hiểu văn bản chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là học sinh, trong môi trường lớp học, có hướng dẫn và có đánh giá. Có thể mô tả yêu cầu cơ bản của đọc hiểu văn bản theo các cấp độ như sau:
Cấp độ
Mô tả vắn tắt

1- Nhận biết

·     Kể lại câu chuyện, nêu tên nhân vật, tóm tắt cốt truyện;
·     Thuộc lòng bài/ đoạn thơ, nhớ chính xác từ ngữ,…
·     Không nhầm lẫn tên tác giả, tên tác phẩm, dân tộc, quốc gia, thời đại,... (gắn với tác phẩm đó)




2- Thông hiểu

·     Xác định đặc điểm thể loại, hình thức bố cục, tình huống truyện, mô tả hoạt động, tính cách nhân vật; xác định tư tưởng, phong cách nhà văn (qua tác phẩm/ đoạn trích), giá trị (hay đặc điểm) nội dung, nghệ thuật tác phẩm…
·     Xác định cảm xúc chủ đạo/ ý chính của đoạn, nội dung chính của bài thơ hoặc các bài kí; xác định đặc điểm nghệ thuật, đặc trưng loại thể, đặc điểm phong cách nhà văn,
·     Xác định hoàn cảnh, tính cách nhân vật và mâu thuẫn, xung đột trong kịch; Phát hiện ý nghĩa của xung đột.

3- Vận dụng


Thấp
·     Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề bình thường trong phạm vi học tập, nhà trường và cuộc sống cá nhân..., với yêu cầu sáng tạo bình thường.

Cao
·     Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề tương đói khó trong phạm vi cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội với yêu cầu sáng tạo cao, có chủ kiến cá nhân
b- Tạo lập văn bản
Tạo lập văn bản tương ứng với các kĩ năng nóiviết hay kĩ năng Tập làm văn. Trong trường phổ thông hiện nay, có 6 kiểu văn bản được đưa ra làm nội dung rèn luyện cho HS, đó là: miêu tả, tự sự (kể chuyện, trần thuật, tường thuật), biểu cảm, thuyết minh, nghị luậnvăn bản ứng dụng, trong đó văn bản ứng dụng (hay nhật dụng) không cùng loại với 5 kiểu văn bản trước, mà là sự tập hợp nhiều loại khác nhau (như: hành chính, thống kê, thương mại,..), có tính chất thực dụng, hàng ngày.
Trong chương trinh Ngữ văn hiện hành, các năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản tuy đã có phần tích hợp nhưng nhiều chỗ vẫn còn rời rạc. Nguyên nhân chủ yếu có lẽ do chương trình còn nặng về nội dung kiến thức. Mong muốn chương trình sắp tới sẽ  phối hợp, gắn kết hơn nữa hai năng lực này trong một bài học.
c- Năng lực sử dụng tiếng Việt
Năng lực sử dụng tiếng Việt gắn liền với đọc hiểu và tạo lập văn bản, tuy nhiên vẫn có tiêu chí riêng để đánh giá.
Khác với yêu cầu đánh giá trước đây, đánh giá theo năng lực coi trọng việc vận dụng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt để đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản.
- Trong đọc hiểu văn bản, năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở chỗ: hiểu chính xác nội dung từ, ngữ, đoạn văn, bài văn; xác định được giá trị, tác dụng của các yếu tố ngôn ngữ trong việc bộc lộ nội dung, đem đến cho người đọc cảm xúc thẩm mỹ.
- Trong tạo lập văn bản, năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện trong việc nói viết đúng câu, dùng từ đúng ý nghĩa và diễn đạt nội dung mạch lạc, hấp dẫn...
4. Kết luận: Bài viết này đã xác định các năng lực chuyên biệt cần được hình thành cho HS phổ thông môn Ngữ văn, bao gồm: đọc hiểu, tạo lập văn bản và sử dụng tiếng Việt. Các năng lực đó đã được xác định dựa trên yêu cầu “năng lực phổ thông”, xét dưới góc độ của lí thuyết tiếp nhận văn học và được cân nhắc dựa trên thang nhận thức Bloom điều chỉnh, đặc biệt là đã dựa trên đề xuất các năng lực cốt lõi mà các đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất.
Bàn về năng lực Ngữ văn của HS là một công việc phức tạp. Bài viết này là những ý kiến ban đầu, chắc còn nhiều thiếu sót khó tránh. Rất mong sự góp ý của các đồng nghiệp.
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
PMD
  Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT (Vụ Giáo dục Trung học- Lưu hành nội bộ), Hà Nội.
2. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2011), Cơ sở đổi mới phương pháp dạy học, Trường ĐHSP Hà Nội- Trường ĐH Potsdam.
3. Nguyễn Thúy Hồng (2007), Đổi mới đánh giá KQHT môn Ngữ văn của HS THCS và THPT. NXB. Giáo dục, Hà Nội, tr. 99.
4. Phan Trọng Luận (chủ biên)- Trương Dĩnh (2012), Phương pháp dạy học văn tập 1, NXB ĐHSP, Hà Nội.
5. Trần Thị Ngọc, “So sánh yêu cầu đọc hiểu của PISA và chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở của Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục, số 318,  kì 2 tháng 9 năm 2013.

Bài đã đăng trên Tạp chí Giáo chức Việt Nam số 97 (5/2015), tr. 54-55.


Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Câu đối vui chúc Tết


Tết Ông Táo

I
Chuyện xưa có cặp vợ chồng
Đang sống yên vui hạnh phúc
Bỗng ông say mê cờ bạc
Gia môn chồng chất nợ nần...

Bà khuyên mãi mà không được,
Nghĩ rằng mình đi thì hơn
Biết đâu ông sẽ tỉnh thức
Làm lại như ngày đầu tiên...

Nhưng ông chồng càng sa đà,
Nhà cửa, ruộng vườn bán hết
Lang thang đi khắp mọi miền
Thành kẻ ăn mày đói rét ...

Tình cờ tại một miền xa
Ông gặp một người đàn bà
Cớ đâu rủ lòng thương xót
Cho ông rất nhiều tiền bạc...

Hoá ra người vợ năm nào
Bây giờ đã  lấy chồng khác,
Tủi buồn họ nhận ra nhau
Cảnh ngộ thật là quái ác...

Vừa lúc ông chồng mới về
Đốt rơm lấy tro rải ruộng,
Nào ngờ trong đống rơm ấy
Có giấu một người ăn xin.

Ngọn lửa bùng phát dữ dội,
Bà vợ hét gào inh ỏi,
Đức lang quân xưa cháy rồi,
Bà nhảy vào, không cứu nổi!

Chẳng hiểu sự gì xảy ra,
Tân lang lao vào cứu vợ
Nhưng ngọn lửa cao ngút trời
Ba người chìm trong đống lửa...

Ngọc Hoàng trông thấy tất cả
Cảm động trước tấm chân tình
Phong cho ba vị làm thần
Trông coi cửa nhà, bếp núc.

II

Chỉ vì kiềng có ba chân
Lạ chưa, thành chuyện thế nhân vĩnh hằng!
“Thế gian một vợ một chồng
Ai như ông Táo hai ông một bà!”
Dân gian suồng sã trêu đùa
Mà thương duyên Táo tình cờ hỏa thiêu...

III

Hàng năm Táo về chầu trời
Nhằm ngày 23 tháng Chạp
Dân gian làm thành lễ Tết
Tiễn ba vị Táo thăng thiên.

Lễ cúng tha hồ rượu thịt
Lại thêm rất lắm kim ngân
Không quên ba con cá chép
Thả ra sông, cá hóa rồng ...

Có kẻ sắm đủ hài mão
Để Táo tấu điều hay ho
Có người cúng kẹo mạch nha
Để Táo nói điều ngon ngọt...

Cầu Táo năm nay nói tốt
Cho dân mình được ấm no...
Táo đi rồi, mình hưởng lộc
Tha hồ đánh chén say sưa...

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Cách soạn giáo án theo định hướng đổi mới giáo dục

Các em SV lớp K57 thân mến!
Hãy tập soạn giáo án theo mẫu dưới đây và suy nghĩ để vận dụng sáng tạo vào bài dạy của mình.
Lưu ý:
- Tăng cường hoạt động tự học của HS; giảm thiểu hoạt động giảng giải, thuyết trình của GV.
- Coi trọng hoạt động thực hành, ứng dụng.
- Kích hoạt, tăng hứng thú trong giờ dạy học. Đảm bảo "mỗi tiết học thêm một niềm vui".

Tham khảo giáo án:
PHÁT BIỂU THEO CHỦ ĐỀ
(Lớp 12, kì 1, tuần 9)
I. Mục tiêu:
·        HS trình bày được  cách thức phát biểu theo chủ đề.
·        HS có kĩ năng/ năng lực phát biểu ý kiến của mình trước tập thể trong các tình huống giao tiếp.

II.  Chuẩn bị:
1. Giáo viên:
- Giấy A0: 4 tờ, bút dạ: 4 cái.
- Powerpoint: các slide.
- Phiếu học tập: 16 cái.
- Text đánh giá: 16 HS.
2. Học sinh:
- Đọc kỹ bài Phát biểu theo chủ đề trong SGK và trước khi lên lớp.
- Thực hiện ở nhà các bài tập trong phần B và C.
III. Phương pháp, phương tiện dạy học:
1. Phương pháp:
- Phương pháp tổ chức hoạt động học tập: Hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân, hoạt động chung cả lớp.
- Phương pháp tổ chức hoạt động bổ trợ: Tổ chức trò chơi trong khởi động; tổ chức cuộc thi.
IV. Tiến trình thực hiện:
Hoạt động của học sinh
Yêu cầu cần đạt
A- Hoạt động khởi động (10 phút)
a- Khởi động  (5 phút): Trò chơi “Hoa nở hoa tàn”.
Cách chơi:
- Chủ tịch hội đồng tự quản lên tổ chức trò chơi hoa nở hoa tàn cho cả lớp.
- Chọn 1-2 bạn làm sai lên hát 1 bài trước lớp.
b- Trải nghiệm (5 phút) Hãy nói cùng  nhóm bạn về số lần em đã được phát biểu ý kiến trước lớp trong thời gian gần đây (lớp 12).
Cách thực hiện:
- Nhóm trưởng điều hành: Lần lượt từng HS nói trước nhóm về số lần mình đã phát biểu ý kiến (tính từ đầu năm học).
- Nhóm trưởng thống kê và báo cáo trước lớp về số lần phát biểu nhiều nhất và ít nhất.

Tạo không khí vui vẻ trước khi học bài mới.






HS nhớ lại những lần phát biểu của mình và tự đánh giá về kĩ năng phát biểu của bản thân


Lời vào bài: “Từ trước đến nay, nhìn chung, các em ít hoặc nhiều lần đều đã được phát biểu ý kiến của mình trước tập thể.
Bài học hôm nay sẽ giúp các em nâng cao hiểu biết của mình về cách thức phát biểu ý kiến, đồng thời các em sẽ rèn luyện kĩ năng phát biểu ý kiến theo chủ đề.
GV viết tên bài học lên bảng.”
Chiếu Slide Mục tiêu lên màn hình, yêu cầu 01 HS đọc.
Viết tên các mục A, B lên bảng.
B- Hoạt động hình thành kiến thức mới (15 phút)
Bài tập 1 (Làm việc nhóm - 7 phút).
Cho chủ đề: “Thanh niên, học sinh cần làm gì để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông?”.
a- Chủ đề trên có thể gồm những nội dung cụ thể nào?
b- Khi tham gia phát biểu anh/chị chọn nội dung nào? Vì sao?
c- Lập đề cương sơ lược cho nội dung cần phát biểu.
Cách thực hiện:
- GV phát cho mỗi nhóm 01 tờ A0 đã viết sẵn yêu cầu trên.
- GV chiếu Slide bài tập 1 lên màn hình.
- Các nhóm thảo luận và trả lời trên giấy A0.
- GV theo dõi, chọn 01 nhóm trả lời tốt nhất lên trình bày.
- Các nhóm khác góp ý kiến bổ sung.
Bài tập 2 (Làm việc cá nhân- 8 phút):
Qua bài tập 1, hãy rút ra cách thức phát biểu ý kiến theo chủ đề (Theo gợi ý).
Cách thực hiện:
- GV phát phiếu học tập cho HS, trong phiếu ghi rõ câu hỏi với những gợi ý về cách thức phát biểu:
a- Khi chuẩn bị, cần:
…………………………………….
……………………………………..
b- Khi phát biểu, cần:
…………………………………….
……………………………………..

- HS làm việc cá nhân trong 5 phút.
- GV theo dõi và tuyên bó hết giờ. Gọi 01 HS trình bày. 01- 02 HS nhận xét.
- GV chốt lại bằng nhận xét và chiếu Slide Ghi nhớ lên màn hình, yêu cầu 01 HS đọc.


BT1.
a- Chủ đề trên có thể gồm những nội dung sau:
+ Những hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông đối với cuộc sống con người.
+ Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông.
+ Một số biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông: Giáo dục luật giao thông; Tuyên truyền ý thức tự giác chấp hành luật giao thông cho mọi người; ….
b- Chọn nội dung để phát biểu: Chọn 01 trong các ý trên hoặc một tình huống giả dụ trong SGK, mục I. 2. Giải thích lí do.
c- Lập đề cương sơ lược (gồm một số ý chính cho nội dung cần phát biểu)



BT 2:
Cách thức phát biểu ý kiến theo chủ đề:
a) Khu chuẩn bị, cần:
- Xác định nội dung cần phát biểu sao cho phù hợp.
- Dự kiến đề cương (các ý chính) để phát biểu.
b) Khi phát biểu ý kiến, cần:
- Giới thiệu khái quát nội dung sẽ phát biểu.
- Trình bày nội dung theo đề cương đã dự kiến.
- Kết thúc và nói lời cảm ơn
* Ngoài ra, người phát biểu còn phải:
- Tìm hiểu thêm về đối tượng tham gia hội thảo.
- Lắng nghe và học tập phong cách của những người đã phát biểu trước đó.
- Điều chỉnh thái độ, cử chỉ, giọng nói cho hợp lí.
- Hình dung trước một số tình huống để chủ động giải quyết.
☺GHI NHỚ: SGK.
C- Hoạt động thực hành (15 phút)
Nhiệm vụ 1: HS làm bài tập 1 (SGK, tr.116) (7 phút)
- Học sinh làm việc theo nhóm.
- Mỗi học sinh tự soạn các ý để phát biểu trước nhóm của mình về quan niệm hạnh phúc của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay.
- Sau 3 phút, nhóm trưởng mời từng bạn đứng lên phát biểu trước nhóm. Các bạn học sinh khác lắng nghe và góp ý cho bạn. Chú ý chỉ nêu nội dung chính và cách thức phát biểu.
 Nhiệm vụ 2: Thi phát biểu theo chủ đề “Quan niệm về hạnh phúc tuổi trẻ trong thời đại ngày nay” (8 phút)
- Mỗi nhóm cử 1 bạn trình bày trước lớp.
- Sau khi các nhóm trình bày xong, cả lớp sẽ chấm điểm theo cách biểu quyết. Người được số phiếu biểu quyết cao nhất là người chiến thắng.
II. Luyện tập
Nhiệm vụ 1.
- HS nêu các nội dung chính theo gợi ý trong SGK.
- HS nêu cách thức trình bày phù hợp.








Nhiệm vụ 2:
Yêu cầu:
- Phát biểu theo trình tự các ý: giới thiệu, nội dung, kết luận và lời cảm ơn.
- Cử chỉ, giọng nói, điệu bộ… phù hợp.
D- Hoạt động ứng dụng (Làm ở nhà. GV hướng dẫn: 2 phút)
- GV hướng dẫn HS về nhà làm bài tập 2 trang 116, SGK.
Yêu cầu: HS biết vận dụng kiến thức đã học về cách thức phát biểu ý kiến theo chủ đề để giải quyết một vấn đè thực tế, nêu quan niệm của mình về vấn đề lập thân lập nghiệp.
HS làm vào vở bài tập.
E- Hoạt động bổ sung: (Làm ở nhà. GV hướng dẫn: 2 phút)
Hướng dẫn HS về nhà tìm đọc:
 “Học cách phát biểu ý kiến trong cuộc họp” .
http://www.hieuhoc.com.

- Trên lớp, HS ghi địa chỉ và bài cần đọc
- Về nhà, HS đọc, ghi tóm tắt nội dung chính vào vở bài tập.
G- Đánh giá: (Làm ở nhà. GV hướng dẫn: 1 phút)
Câu hỏi:
1- Trình bày tóm tắt cách thức phát biểu ý kiến về một chủ đề.
2- Tự nhận xét: Hãy nêu ưu điểm và nhược điểm của em trong việc phát biểu ý kiến về một chủ đề trước tập thể. Giải thích lí do nhược điểm của em và nêu dự kiến cách khắc phục.


- Phát phiếu đánh giá cho HS.
- Chiếu Slide câu hỏi lên màn hình.
Yêu cầu: HS làm vào Phiếu đánh giá.
Nộp bài sau